Bản thảo đầu tiên không phải là cuốn sách của bạn
Kì vọng đúng để không bỏ dở một ý tưởng tiềm năng
Gần đây mình có trò chuyện với một chị chuyên gia đang viết cuốn sách đầu tiên. Chị viết được ba chương thì dừng lại, và câu chị nói với mình là: “Chị đọc lại thấy dở quá. Chắc chị không có khiếu viết.”
Mình chỉ tay lên giá sách ở bên cạnh và hỏi lại chị một câu: “Chị có nghĩ bản thảo đầu tiên của những cuốn sách ở kia đều tốt ngay từ đầu không?”
Chị im lặng một lúc. Vì thật ra, hầu hết chúng ta đều chưa bao giờ nhìn thấy bản nháp đầu tiên của bất kỳ cuốn sách nào. Thứ chúng ta cầm trên tay luôn là phiên bản cuối cùng - đã qua tay tác giả, biên tập viên với nhiều vòng sửa mà không ai kể lại. Nhưng chúng ta lại luôn lấy chính phiên bản cuối cùng đó làm chuẩn để so sánh và chấm điểm bản nháp số 1 của mình.
Hôm nay mình muốn kể bạn nghe câu chuyện về một người đàn ông đã làm ra 5.127 bản nháp, và con số đó có thể thay đổi cách bạn nhìn bản thảo đang dở dang của bạn.
5.127 bản mẫu và một cách nhìn khác về thất bại
Năm 1978, kỹ sư người Anh James Dyson nhận ra chiếc máy hút bụi đắt tiền của gia đình cứ dùng một thời gian là yếu hẳn đi. Nguyên nhân nằm ở chiếc túi giấy đựng bụi: các lỗ nhỏ trên túi bị bụi bịt kín, khiến lực hút giảm dần. Khó chịu với điều đó, ông quyết định tự mình giải quyết - thiết kế một chiếc máy hút bụi không cần túi lọc.
Điều đáng nói không nằm ở ý tưởng. Điều đáng nói nằm ở những gì diễn ra trong 15 năm sau đó.
Dyson bắt đầu bằng những công cụ thô sơ nhất: tự tay hàn xì, chế tạo từng bộ phận từ những cỗ máy cũ. Ông làm bản mẫu đầu tiên. Nó không hoạt động như mong muốn. Ông làm bản thứ hai. Vẫn chưa được. Bản thứ ba, thứ mười, thứ một trăm. Ròng rã 15 năm, ông làm ra tổng cộng 5.127 bản mẫu trước khi có được nguyên mẫu hoạt động hoàn hảo - chiếc máy dùng lực ly tâm để văng bụi ra khỏi luồng không khí, không cần bất kỳ chiếc túi lọc nào. Năm 1993, chiếc DC01 ra đời và nhanh chóng trở thành máy hút bụi bán chạy nhất nước Anh.
Sau này, khi kể lại hành trình đó, Dyson có một câu mà mình nghĩ mọi tác giả nên dán lên bàn làm việc: “Tôi đã có 5.126 lần thất bại. Nhưng tôi học được từ từng lần một.”
Bạn để ý cách ông đề cập đến câu chuyện của mình không? Ông không nói “tôi thất bại suốt 15 năm”. Ông đếm từng bản mẫu, vì với ông, mỗi bản hỏng không phải là một phán quyết về năng lực - nó là một mẫu dữ liệu. Bản mẫu số 800 hỏng theo cách khác bản số 799, và chính sự khác nhau đó cho ông biết mình đang tiến gần hơn hay xa hơn với mục tiêu.
Còn một chi tiết nữa mà mình thấy đắt giá không kém con số 5.127. Đó là với mỗi bản mẫu, Dyson chỉ thay đổi một biến số duy nhất. Lúc là kích thước luồng xoáy, lúc là hình dáng của nó. Ông không đập đi làm lại từ đầu 5.127 lần. Ông tinh chỉnh có chủ đích, từng bước một, và biết chính xác mình đang kiểm tra điều gì ở mỗi phiên bản.
Bây giờ bạn hãy thử đặt câu chuyện này cạnh chuyện viết sách. Dyson gọi những thứ ông làm ra là “bản mẫu” - nên ông được phép làm hỏng. Hỏng là chuyện đương nhiên của bản mẫu. Nhưng phần lớn tác giả gọi thứ mình đang viết là “cuốn sách”, nên mỗi trang dở đều trở thành bằng chứng chống lại chính mình. Cùng một sản phẩm chưa hoàn thiện, hai tên gọi khác nhau, và chúng ta có hai số phận hoàn toàn khác nhau.
Đọc thêm bài viết:
Khi bạn đổi tên gọi, bạn đổi cả kỳ vọng
Kỳ vọng ngầm của rất nhiều tác giả lần đầu là: bản thảo viết ra phải đọc hay ho, thú vị như phiên bản đã sẵn sàng để đi in. Không ai nói to kỳ vọng này ra, nhưng nó điều khiển toàn bộ cảm xúc khi viết. Chương 1 thường trôi chảy vì còn hứng khởi. Đến chương 2, chương 3, khi câu chữ bắt đầu lủng củng và ý tưởng không còn mạch lạc như trong đầu, kỳ vọng đó lên tiếng: “Thấy chưa, mình không có khả năng viết.”
Nhưng hãy nhìn lại phép so sánh đang diễn ra: bạn đang so bản nháp số 1 của mình với phiên bản hoàn thiện của người khác. Đó là một cuộc so sánh mà không ai thắng nổi, kể cả những người viết chuyên nghiệp nhất.
Anne Lamott, tác giả cuốn Bird by Bird - một trong những cuốn sách về nghề viết được yêu thích nhất - gọi thẳng tên hiện tượng này. Bà nói gần như mọi bài viết hay đều bắt đầu từ những bản nháp đầu tiên dở tệ, thứ bà gọi không né tránh là “shitty first drafts”. Với Lamott, bản nháp dở không phải là tai nạn của quá trình viết. Nó chính là quá trình viết. Và bà còn đi xa hơn: chủ nghĩa hoàn hảo, theo bà, là “giọng nói của kẻ áp bức” - thứ khiến người viết tê liệt trước khi kịp tạo ra bất cứ điều gì xứng đáng có cơ hội được sửa.
Nếu bạn nghĩ điều này chỉ đúng với người viết, hãy nhìn sang một trong những đội ngũ sáng tạo thành công nhất thế giới. Ed Catmull, đồng sáng lập Pixar, thừa nhận trong cuốn Creativity Inc. rằng mọi bộ phim của hãng đều dở tệ ở giai đoạn đầu. Ông gọi những phiên bản đầu tiên đó là “ugly babies” - những đứa trẻ xấu xí cần được bảo vệ và nuôi lớn, thay vì bị vứt bỏ vì chưa đẹp. Toy Story hay Insight Out mà chúng ya yêu thích đều từng đi qua hàng chục bản dựng bị chê tơi tả trong các buổi duyệt nội bộ. Đội ngũ giỏi nhất thế giới cũng không né được tình trạng bản nháp dở tệ. Họ chỉ khác người nghiệp dư ở một điểm: họ xử lý bản nháp tệ một cách có hệ thống, thay vì xem nó là dấu hiệu để dừng lại.
Vậy nên, điều mình muốn bạn mang theo từ phần này chỉ gói trong một câu: bản thảo đầu tiên của bạn chỉ có đúng một nhiệm vụ - đó là sự tồn tại của nó. Nó tồn tại để cho bạn cơ hội để sửa ở bản tiếp theo. Nó là bản mẫu, không phải sản phẩm.
Cuốn sách của bạn không cần 5.127 bản nháp
Đọc đến đây, có thể bạn hơi chột dạ: chẳng lẽ phải viết lại cả nghìn lần? Không. Con số 5.127 của Dyson tồn tại để thay đổi cách bạn nhìn bản nháp dở, không phải để đặt ra chuẩn khối lượng. Với một cuốn sách, thực tế 3-4 vòng sửa có chủ đích là đủ. Từ khoá nằm ở “có chủ đích”.
Anne Lamott có một framework rất hay cho việc này, và mình thấy nó khớp đến bất ngờ với cách Dyson làm việc. Bà chia quá trình viết thành ba bản nháp, mỗi bản một nhiệm vụ:
Vòng 1 - Bản nháp “viết xuống” (down draft): nhiệm vụ duy nhất là đưa mọi thứ trong đầu ra trang giấy. Không sửa, không đọc lại, không chấm điểm. Câu lủng củng cứ để lủng củng. Ý chưa rõ cứ để chưa rõ. Bản này chỉ cần nó tồn tại là vui rồi.
Vòng 2 - Bản nháp “sửa lên” (up draft): bây giờ mới đến lúc nhìn lại, nhưng đầu tiên hãy nhìn ở tầng cấu trúc. Mạch lập luận đã đứng chưa? Chương nào thừa, phần nào thiếu? Ví dụ nào chưa phục vụ thông điệp? Vòng này bạn sửa cho cuốn sách tốt lên, chưa cần đẹp lên.
Vòng 3 - bản nháp “khám răng” (dental draft): rà từng “chiếc răng” một - câu chữ, cách diễn đạt, số liệu, tên riêng. Đây mới là lúc trau chuốt từng câu văn.
Bạn có nhận ra nguyên tắc của Dyson trong đó không? Mỗi bản mẫu chỉ thay đổi một biến số. Mỗi vòng sửa chỉ có một nhiệm vụ. Vấn đề của phần lớn tác giả bỏ dở không phải là họ thiếu khả năng mà là họ làm nhiệm vụ của vòng 3 ngay trong vòng 1. Vừa viết vừa trau chuốt từng câu nghĩa là bắt bản mẫu đầu tiên phải hoàn hảo như bản cuối cùng. Đó chính là điều khiến chúng ta kiệt sức trên một bản thảo còn dang dở.
Đọc thêm bài viết:
Để các vòng sửa thực sự hoạt động
Để cách làm này thực sự hoạt động, có hai điều kiện mà mình muốn bạn lưu ý.
Thứ nhất, bản mẫu phải được kiểm tra. Dyson không ngắm nghía 5.127 bản mẫu trong xưởng - ông thử từng bản với những hạt bụi thật. Bản thảo của bạn cũng vậy: giữa các vòng sửa, nó cần gặp độc giả thật. Không cần nhiều - vài độc giả beta đúng chân dung độc giả mục tiêu của bạn là đủ để bạn biết chương nào chạm, chương nào trượt. Viết lại mười lần trong cô độc không hay chút nào, nó chỉ khiến bạn loay hoay với cảm giác của chính mình. Thay vào đó, hãy gặp gỡ người khác, hãy trò chuyện, hãy lắng nghe thực sự - điều đó sẽ mang tới cho bạn nguồn cảm hứng và cả những ý tưởng rất tuyệt vời.
Thứ hai, mỗi vòng cần một điểm dừng. Dyson dừng ở bản mẫu hoạt động tốt và mang nó ra thị trường - ông không cầu toàn thêm mười năm nữa cho một phiên bản “hoàn hảo tuyệt đối”. Sửa mãi không có điểm dừng chỉ là chủ nghĩa hoàn hảo mặc chiếc áo mới. Hãy đặt deadline cho từng vòng, và khi hết vòng 3, hãy cho phép cuốn sách của bạn được ra đời. Bạn có thể gửi nó cho các nhà xuất bản để mời mua bản quyền, xuất bản nó online với độc giả hoặc triển khai biên tập hoàn thiện với các biên tập viên cho hoạt động tự xuất bản.
Bài học từ James Dyson cho các tác giả:
(1) Gọi bản thảo đầu tiên là bản nháp, đừng kì vọng nó phải hoàn hảo.
(2) Mỗi vòng sửa chỉ một nhiệm vụ: viết xuống, sửa cấu trúc, rồi mới trau chuốt câu chữ.
(3) Bản thảo cần được thử với độc giả thật, và mỗi vòng cần một điểm dừng.
Đọc thêm bài viết:
Bản mẫu số 1 của bạn đang nằm ở đâu?
Nếu nhìn lại toàn bộ câu chuyện, bạn sẽ thấy Dyson không sở hữu điều gì mà một tác giả không có. Ông không giỏi ngay từ bản mẫu đầu tiên - bản đầu tiên của ông hỏng, và 5.125 bản sau đó cũng vậy. Thứ ông có là một cách nhìn khác: ông xem mỗi bản hỏng là dữ liệu chứ không phải phán quyết, ông chỉ thay đổi một biến số mỗi lần để biết chính xác mình đang học điều gì, và ông biết dừng lại khi bản mẫu đã đủ tốt để gặp thế giới.
Ba điều đó cũng chính là ba việc mà bạn có thể làm với bản thảo của mình, ngay từ hôm nay. Gọi nó bằng đúng tên - bản mẫu - để nó được phép ra đời. Cho mỗi vòng sửa một nhiệm vụ duy nhất, để bạn không kiệt sức vì cố làm mọi thứ cùng lúc. Và đặt cho nó một điểm dừng, để sự cầu toàn không giữ cuốn sách của bạn trong ngăn kéo mãi mãi.
Bởi vì rào cản lớn nhất giữa bạn và cuốn sách của bạn thường không phải là khả năng viết. Đó là kỳ vọng rằng bản nháp số 1 phải mang dáng hình của phiên bản cuối cùng. Khi kỳ vọng đó được đặt lại, việc viết không dễ hơn nhưng việc tiếp tục viết thì dễ hơn rất nhiều.
Vậy nên mình muốn để lại cho bạn một câu hỏi:
Bản thảo bạn đang bỏ dở - nó thực sự dở, hay nó chỉ đang là bản mẫu số 1 mà bạn kỳ vọng phải là bản thảo đã sẵn sàng để xuất bản?
Nếu bạn đang muốn trang bị thêm trục tư duy vững vàng hành trình viết cuốn sách của mình, bạn có thể đăng ký chương trình Book Thinking của mình. Đây là hệ thống các bài viết được thiết kế theo lộ trình tư duy hoàn chỉnh với những công cụ để bạn có thể thực hành và thực sự ứng dụng đóng gói tri thức cho riêng mình.








